
Ghi chú về chẩn đoán gen trong ung thư máu
14 tháng 1, 2026
Xét nghiệm gen là không thể thiếu trong quản lý ung thư máu. Phân biệt đột biến dòng mầm với đột biến khối u là then chốt, qua hai ca AML tại Bệnh viện Boren.
Xét nghiệm gen là không thể thiếu trong quản lý bệnh máu. Với bạch cầu cấp, nó hỗ trợ chẩn đoán, đánh giá tiên lượng và định hướng điều trị. Tuy nhiên, diễn giải báo cáo đột biến gen rất phức tạp. Bác sĩ phải phân biệt đột biến dòng mầm (di truyền) với biến thể thân (somatic) có nguồn gốc từ khối u, làm rõ liệu biến thể dòng mầm có góp phần tạo tính nhạy cảm với bạch cầu hay không, phân tích vị trí đột biến, tổ hợp biến thể và tác động của chúng lên tiên lượng cũng như lựa chọn thuốc đích. Cần thảo luận chung giữa bác sĩ lâm sàng và chuyên gia di truyền phân tử để lập phác đồ điều trị hợp lý.
Hôm nay, ông Zheng Qinlong, Giám đốc Phòng Chẩn đoán Phân tử của chúng tôi từ Bệnh viện GoBroad Boren Bắc Kinh, đã cùng các bác sĩ lâm sàng phân tích báo cáo gen của một bệnh nhân, mang lại những hiểu biết sâu sắc cho mọi người tham dự. Diễn giải sai đột biến có thể làm chậm điều trị hoặc dẫn đến phác đồ không phù hợp.
Ca lâm sàng 1
Một bệnh nhân AML mang đột biến kép CEBPA và đột biến CSF3R, đạt lui bệnh hoàn toàn sau một chu kỳ hóa trị. Một bệnh viện khác phân loại nhầm ca này là AML nguy cơ thuận lợi chỉ dựa trên đột biến kép CEBPA và cho hóa trị lặp lại. Bệnh nhân tái phát sau sáu chu kỳ.
Khi nhập viện chúng tôi, phân tích phân tử xác nhận biến thể kép CEBPA là đột biến nhạy cảm dòng mầm chứ không phải đột biến bạch cầu thân. CEBPA kép dòng mầm làm tăng nguy cơ bạch cầu và khiến bệnh nhân dễ phát sinh đột biến thứ phát mới cùng tái phát sau hóa trị; đột biến CSF3R Q754X liên quan tiên lượng xấu. Chúng tôi khuyến nghị ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại ngay sau khi lui bệnh để tránh bệnh tái phát và tổn thương cơ quan do hóa trị kéo dài.
Ca lâm sàng 2
Một phụ nữ 46 tuổi mới chẩn đoán AML đạt lui bệnh một phần sau một chu kỳ hóa trị. Panel 127 gen phát hiện các đột biến thân IDH2, NPM1 và BRAF, cùng nghi ngờ biến thể dòng mầm DNMT3A và ATRX.
Trong khi đột biến IDH2 + NPM1 nhìn chung mang tiên lượng thuận lợi, đột biến BRAF đi kèm lại dự báo kết quả kém hơn. Tuy nhiên, biến đổi BRAF đáp ứng với Trametinib và Vemurafenib, và điều trị phối hợp có thể tăng hiệu quả. Xét nghiệm DNA từ móng được chỉ định để xác minh DNMT3A có phải dòng mầm hay không. Đề xuất toàn diện của chúng tôi: hóa trị kết hợp điều trị đích BRAF để đạt lui bệnh hoàn toàn, sau đó ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại. Hai gen nhạy cảm dòng mầm được xác định qua giải trình tự panel, gợi ý chọn người hiến không cùng huyết thống hoặc mở rộng sàng lọc gen nhạy cảm khi chọn người hiến cùng huyết thống phù hợp.




